半生丘壑羨幽凄,
禪法分明聽鳥啼。
萬里南來山水遠,
一生能幾過曹溪。
阮廌
Nguyễn Trãi


Phiên âm:
ĐỀ NAM HOA THIỀN PHÒNG
 
Bán sinh khâu hác tiện u thê,
Thiền pháp phân minh thính điểu đề.
Vạn lý Nam lai sơn thuỷ viễn,
Nhất sinh năng kỷ quá Tào Khê.


Dịch nghĩa:
Đề phòng thiền Nam Hoa


Nửa đời khe núi thích tịch liêu
Nghe tiếng chim kêu tỏ pháp thiền
Nam lai sông núi xa nghìn dặm
Đời người mấy bận đến Tào Khê!?

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on Thứ Ba, 10 tháng 11, 2009
0 nhận xét
categories: | | edit post


荊 谿 白 日 出,

天 寒 紅 葉 稀。


山 路 元 無 雨,

空 嵐 濕 人 衣。


王維 Vương Duy
Thơ Trung quôc

Phiên âm:
Sơn trung

Kinh khê bạch nhật xuất,
Thiên hàn hồng diệp hy.
Sơn lộ nguyên vô vũ,
Không lam thấp nhân y.

Việt dịch:
Trong núi

Suối kinh trời ló dạng
Trời lạnh lá đỏ thưa
Đường núi vốn không mưa
Hơi núi người ướt áo.




Read More
Người đăng: Phổ Đồng on Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2009
0 nhận xét
categories: | | edit post

一 別 家 山 恰 十 年

歸 來 松 匊 半 翛 然

林 泉 有 約 那 堪 負

塵 土 低 頭 只 自 憐

鄕 里 纔 過 如 夢 到

干 戈 未 息 幸 身 全

何 時 結 屋 雲 峰 下

汲 澗 烹 茶 枕 石 眠

阮廌

Phiên âm:
Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác

Nhất biệt gia sơn kháp thập niên
Quy lai tùng cúc bán tiêu nhiên
Lâm tuyền hữu ước na kham phụ
Trần thổ đê đầu chỉ tự liên
Hương lí tài qua như mộng đáo
Can qua vị tức hạnh thân tuyền
Hà thời kết ốc vân phong hạ
Cấp giản phanh trà chẩm thạch miên
Nguyễn Trãi

Việt dịch:
Cảm tác về Côn Sơn sau loạn

Mười năm cách biệt quê nhà
Khi về tùng cúc nửa ra điêu tàn
Suối rừng lỡ hẹn nào quên

Cúi nhìn cát bụi tự thân thương mình
Làng qua, tưởng mộng đến mình
Chiến chinh chửa dứt may hình còn nguyên
Bao giờ dựng am mây hiên
Pha trà gối đá bên triền ngủ say?

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on Thứ Sáu, 10 tháng 10, 2008
0 nhận xét
categories: | | edit post

望 觀 音 廟

誰 絕 境 構 亭 臺

伐 盡 松 枝 墜 鶴 胎

石 穴 何 年 初 鑿 破

金 身 前 夜 卻 飛 來

停 雲 處 處 僧 眠 定

落 日 山 山 猿 叫 哀

一 炷 檀 香 消 慧 業

回 頭 已 隔 萬 重 崖.

阮攸

Phiên âm:
Vọng Quan Âm miếu

Y thùy tuyệt cảnh cấu đình đài
Phạt tận tùng chi trụy hạc thai
Thạch huyệt hà niên sơ tạc phá
Kim thân tiền dạ khước phi lai
Ðình vân xứ xứ tăng miên định
Lạc nhật sơn sơn viên khiếu ai
Nhất chú đàn hương tiêu tuệ nghiệp
Hồi đầu dĩ cách vạn trùng nhai.

Việt dịch:
Trông miếu Quan Âm


Đình đài ai đó dựng nơi đây,
Chặt hết cành tùng trứng hạc bay;
Động đá năm nào nay đục phá,
Tượng vàng đêm trước mất quay lui.
Mây giăng khắp chốn sư an giấc,
Chiều xuống núi đồi vượn kêu ai;
Ðốt nén hương đàn tiêu nghiệp tuệ,
Quay đầu đã cách vạn trùng nhai.

Phổ Đồng

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2008
0 nhận xét
categories: | | edit post

徐 州 堤 上 望

一 河 南 北 古 爭 衡

河 上 徐 州 舊 有 名

戲 馬 舊 臺 秋 草 遍

斷 蛇 大 澤 暮 雲 平

一 城 人 物 窩 中 蟻

四 路 舟 車 水 上 萍

悵 望 紅 塵 渺 無 際

不 知 日 日 此 中 行 .

阮攸

Phiên âm:
Từ Châu đê thượng vọng

Nhất hà nam bắc cổ tranh hành
Hà thượng Từ Châu cựu hữu danh
Hí mã cựu đài thu thảo biến
Đoạn xà đại trạch mộ vân bình
Nhất thành nhân vật oa trung nghĩ
Tứ lộ chu xa thủy thượng bình
Trướng vọng hồng trần diểu vô tế
Bất tri nhật nhật thử trung hành
Nguyễn Du

Việt dịch:
Nhìn từ đê Từ Châu

Sông này nam bắc đã phân tranh
Dãi đất Từ Châu từng nổi danh
Đài xưa “Hí mã” tràn thu thảo
Đầm lớn”Đoạn xà” mây chiều giăng
Người vật một thành như tổ kiến
Thuyền xe bốn ngả, lục bình trôi
Trông xuống bụi hồng bay khắp lối
Hằng ngày nào biết bước quẩn quanh!

Phổ Đồng

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on
0 nhận xét
categories: | | edit post

梁 昭 明 太 子 分 經 石 臺


梁 朝 昭 明 太 子 分 經 處


石 臺 猶 記 分 經 字

臺 基 蕪 沒 雨 花 中

百 草 驚 寒 盡 枯 死

不 見 遺 經 在 何 所

往 事 空 傳 梁 太 子

太 子 年 少 溺 菸 文

強 作 解 事 徒 紛 紛

佛 本 是 空 不 著 物

何 有 乎 經 安 用 分

靈 文 不 在 言 語 科

孰 為 金 剛 為 法 華

色 空 境 界 茫 不 悟

癡 心 歸 佛 佛 生 魔

一 門 父 子 多 膠 蔽

一 念 之 中 魔 自 至

山 陵 不 涌 蓮 花 臺

白 馬 朝 渡 長 江 水

楚 林 禍 木 池 殃 魚

經 卷 燒 灰 臺 亦 圯

空 留 無 益 萬 千 言

後 世 愚 僧 徒 聒 耳

吾 聞 世 尊 在 靈 山

說 法 渡 人 如 恆 河 沙 數

人 了 此 心 人 自 渡

靈 山 只 在 汝 心 頭

明 鏡 亦 非 臺

菩 提 本 無 樹

我 讀 金 剛 千 遍 零

其 中 奧 旨 多 不 明

及 到 分 經 石 臺 下

終 知 無 字 是 眞 經 .


阮攸 Nguyễn Du
Thơ Việt Nam


Phiên âm:
Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài


Lương triều Chiêu Minh thái tử phân kinh xứ
Thạch đài do kí “Phân kinh” tự
Đài cơ vu một vũ hoa trung
Bách thảo kinh hàn tận khô tử
Bất kiến di kinh tại hà sở
Vãng sự không truyền Lương thái tử Thái tử
Niên thiếu nịch ư văn
Cưỡng tác giải sự đồ phân phân
Phật bản thị không bất trước vật
Hà hữu hồ kinh an dụng phân
Linh văn bất tại ngôn ngữ khoa
Thục vi Kim Cương vi Pháp Hoa
Sắc không cảnh giới mang bất ngộ
Si tâm quy Phật Phật sinh ma
Nhất môn phụ tử đa giao tế
Nhất niệm chi trung ma tự chí
Sơn lăng bất dũng liên hoa đài
Bạch mã triêu độ Trường Giang thủy
Sở lâm họa mộc trì ương ngư
Kinh quyển thiêu hôi đài diệc dĩ
Không lưu vô ích vạn thiên ngôn
Hậu thế ngu tăng đồ quát nhĩ
Ngô văn Thế Tôn tại Linh Sơn
Thuyết pháp độ nhân như Hằng Hà sa số
Nhân liễu thử tâm nhân tự độ
Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu
Minh kính diệc phi đài
Bồ Đề bản vô thụ
Ngã độc Kim Cương thiên biến linh
Kì trung áo chỉ đa bất minh Cập đáo
Phân kinh thạch đài hạ
Chung tri vô tự thị chân kinh .

Việt dịch:
Đài đá 'phân kinh’ của thái tử Lương Chiêu Minh

Nơi phân kinh Chiêu Minh thái tử[1],
Đài đá còn in chữ phân kinh;
Nền hoang hoa dại phủ trong mưa,
Trăm cỏ chết khô run sợ rét.
Chẳng thấy lưu kinh ở nơi nào?
Việc chỉ nghe qua Lương Thái tử;
Ấu thời người lại thích văn chương,
Cưỡng bày chú giải thêm lộn xộn.
Phật vốn là không, không chấp vật,
Vậy có kinh nào để đặt chia?
Văn linh nào nhờ nơi ngôn ngữ,
Kim Cương, Pháp Hoa là kinh gì?
Cảnh giới sắc không mà không tỏ,
Lòng mê theo Phât, Phật thành ma;
Cha con một nhà đều mù cả,
Một niệm khởi lên ma tự đến.
Lăng tẩm, đài sen không tự mọc,
Một sớm trường giang bạch mã qua;
Cây lây rừng Sở ao cá vạ,
Kinh đốt ra tro đài sập luôn.
Muôn vạn nghìn lời thôi vô ích,
Tăng ngu hậu thế miệng lải nhải;
Tôi nghe Thế tôn tại Linh Sơn,
Nói pháp độ người như số cát
[2].
Người tỏ tâm này người tự độ,
Linh sơn chỉ tại tấm lòng ngươi;
Gương sáng trong veo cũng không đài,
Bồ-đề xưa nay vốn không cây.
Ta đọc Kim Cương hơn nghìn biến,
Áo chỉ trong kinh không tỏ nhiều;
Cho đến dưới đài đá phân kinh,
Cuối cùng “Vô tự” biết là chân kinh.

Phổ Đồng
[1] Thái tử Chiêu Minh đời nhà Lương.
[2] Cát sông Hằng.

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on Thứ Tư, 28 tháng 5, 2008
0 nhận xét
categories: | | edit post

戲 題

閒 來 無 事 不 清 哦


塵 外 風 流 自 一 家

珪 璧 千 重 開 疊 巘

玻 瓈 萬 頃 漾 晴 波

管 弦 嘈 雜 林 邊 鳥

羅 綺 芳 芬 塢 裡 花

眼 底 一 時 詩 料 富

吟 翁 誰 與 世 人 多

阮 廌 Nguyễn Trãi
Thơ Việt Nam

Phiên âm:
Hí đề

Nhàn lai vô sự bất thanh nga
Trần ngoại phong lưu tự nhất gia
Khuê bích thiên trùng khai điệp nghiễn
Pha lê vạn khoảnh dạng tình ba
Quản huyền tào tạp lâm biên điểu
La ỷ phương phân ổ lý hoa
Nhãn để nhất thời thi liệu phú
Ngâm ông thùy dữ thế nhân đa

Việt dịch:
Đề vui

Nhàn đến ngâm thơ khi vô sự
Phong lưu thoát tục một mình ta
Nghìn trùng núi chất giăng ngọc bích
Sóng lặng lung linh ánh nước xa
Ven rừng chim hót như đờn, sáo
Trong xóm cỏ hoa thơm lụa là
Đáy mắt hồn thơ giàu mỗi lúc
Người thơ hơn được khách đời sao?

Phổ Đồng

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on Thứ Năm, 24 tháng 1, 2008
0 nhận xét
categories: | | edit post


春 夜 宴 桃 李 園 序

夫 天 地 者, 萬 物 之 逆 旅;


光 陰 者, 百 代 之 過 客。


而 浮 生 若 夢,


爲 歡 幾 何 ?


古 人 秉 燭 夜 遊,


良 有 以 也。


況 陽 春 召 我 以 煙 景,

大 塊 假 我 以 文 章。

會 桃 李 之 芳 園,

序 天 倫 之 樂 事。

群 季 俊 秀, 皆 爲 惠 連。

吾 人 詠 歌, 獨 慚 康 樂。

幽 賞 未 已,

高 談 轉 清。

開 瓊 筵 以 坐 華,

飛 羽 觴 而 醉 月。

不 有 佳 作,

何 伸 雅 懷?

如 詩 不 成,

罰 依 金 谷 酒 數。

李白 Lý Bạch
Đoản văn Trung Quốc

Phiên âm:
Xuân dạ yến đào lý viên tự

Phù thiên địa giả, vạn vật chi nghịch lữ;
Quang âm giả, bách đại chi quá khách.
Nhi phù sinh nhược mộng,
Vi hoan ki hà?
Cổ nhân bỉnh chúc dạ du,
Lương hữu dĩ dã.
Huống dương xuân triệu ngã dĩ yên cảnh,
Đại khối giả ngã dĩ văn chương.
Hội đào lý chi phương viên,
Tự thiên luân chi lạc sự.
Quần quý tuấn tú, giai vi Huệ Liên.
Ngô nhân vịnh ca, độc tàm Khang Lạc.
U thưởng vị dĩ,
Cao đàm chuyển thanh.
Khai quỳnh diên dĩ tọa hoa,
Phi vũ thương nhi túy nguyệt.
Bất hữu giai tác,
Hà thân nhã hoài?
Như thi bất thành,
Phạt y Kim Cốc tửu sổ.

Việt Dịch:
Đêm xuân uống rượu trong vườn đào lý

Trời đất là quán trọ của muôn vật;
Thời gian là khách ghé của trăm đời.
Mà phù sinh như giấc mộng,
vui được là bao?
Người xưa cầm đuốc chơi đêm,
tin rằng có vậy.
Huống chi mùa xuân đem cảnh sương mù lôi cuốn ta,
Đất rộng dùng văn chương mời mọc ta.
Hợp mặt trong vườn thơm đào lý,
Bày cuộc vui của trời cao.
Các nàng đẹp đẽ, đều như Huệ Liên.
Chúng ta ca ngâm, thẹn cùng Khang Lạc.
Ngoạn cảnh chưa xong,
Quay sang đàm thanh.
Trải chiếu ngọc dưới hoa,

Vung chén say cùng nguyệt.
Không có văn hay,
Sao ra lòng nhã.
Như thơ không thành,
Phạt theo số rượu Kim Cốc.


Phổ Đồng


Read More
Người đăng: Phổ Đồng on Thứ Tư, 23 tháng 1, 2008
0 nhận xét
categories: | | edit post

縻 中 漫 興

鐘 子 援 琴 操 南 音


莊 錫 病 中 猶 越 吟

四 海 風 塵 家 國 淚

十 旬 牢 獄 死 生 心

平 章 遺 恨 何 時 了

孤 竹 高 風 不 可 尋

我 有 寸 心 無 與 語

鴻 山 山 下 桂 江 深。

阮攸 Nguyễn Du
Thơ Việt Nam

Phiên âm:
Mỵ trung mạn hứng

Chung Tử viên cầm tháo Nam âm
Trang Tích bệnh trung do Việt ngâm
Tứ hải phong trần gia quốc lệ
Thập tuần lao ngục sinh tâm
Bình Chương di hận hà thời liễu
Cô Trúc cao phong bất khả tầm
Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ
Hồng sơn sơn hạ Quế giang thâm.

Việt dịch:
Nghĩ lung trong ngục

Trang Tích bệnh rên âm ngữ Việt
Cầm đàn Chung Tử dạo Nam âm
Bốn phương gió bụi rơi lệ nước
Lao ngục mười tuần sống chết tâm
Bình Chương di hận bao giờ hết?
Cô Trúc thanh cao không thể tầm
Ta có tấc lòng không tỏ được
Sâu như sông Quế dưới non Hồng!

Phổ Đồng

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on Chủ Nhật, 20 tháng 1, 2008
0 nhận xét
categories: | | edit post

雜 詩 二

鴻 山 一 色 臨 平 渠


清 寂 可 為 寒 士 居


千 里 白 雲 生 几 席


一 窗 明 月 上 琴 書


笑 啼 徇 俗 干 戈 際


緘 默 藏 生 老 病 餘


落 葉 花 開 眼 前 事


四 時 心 境 自 如 如.


阮攸 Nguyễn Du
Thơ Việt Nam

Phiên âm
Tạp thi nhị


Hồng Sơn nhất sắc lâm bình cừ,
Thanh tịch khả vi hàn sĩ cư.
Thiên lý bạch vân sinh kỷ tịch
Nhất song minh nguyệt thướng cầm thư
Tiếu đề tuẫn tục can qua tế,
Giam mặc tàng sinh lão bệnh dư.
Diệp lạc hoa khai nhãn tiền sự,
Tứ thời tâm kính tự như như.

Việt dịch:
Tạp thi 2

Non Hồng soi bóng in dòng nước
Hàn sĩ ần cư nơi vắng trong
Mây trắng quanh giường xa nghìn dặm

Sách đàn trăng dõi lọt qua song
Tùy đời cười khóc qua cơn loạn
Ngậm miệng che thân dưỡng bệnh này
Hoa nở lá rơi ngay trước mắt
Cõi lòng năm tháng vẫn không thay.

Phổ Đồng

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on Thứ Năm, 17 tháng 1, 2008
0 nhận xét
categories: | | edit post

江亭有感

憶 昔 吾 翁 謝 老 時
飄 飄 蒲 駟 此 江 湄


仙 舟 激 水 神 龍 鬥

寶 蓋 浮 空 瑞 鶴 飛

一 自 衣 裳 無 覓 處

兩 隄 煙 草 不 勝 悲

百 年 多 少 傷 心 事

近 日 長 安 大 已 非

阮攸 Nguyễn Du
Thơ Việt Nam

Phiên âm
Giang Đình hữu cảm:

Ức tích ngô ông tạ lão thì,
Phiêu phiêu bồ tứ thử giang mi.
Tiên chu kích thủy thần long đấu,
Bảo cái phù không thụy hạc phi.
Nhất tự y thường vô mịch xứ,
Lưỡng đê yên thảo bất thăng bi.
Bách niên đa thiểu thương tâm sự,
Cận nhật trường an đại dĩ phi.


Việtdịch:
Cảm xúc Giang Đình

Nhớ lúc xưa, cha ta cáo lão,
Tấp nập ngựa xe bến sông này.
Thuyền tiên rẽ nước rồng giao đấu,
Lọng quý trên không hạc gieo lành.
Từ khi xiêm áo không tìm thấy,
Khói cỏ đôi bờ chịu bi thương.
Cận nhật kinh thành nhiều khác lạ,
Trăm năm nhiều ít chuyện thương tâm!

Phổ đồng

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on Thứ Ba, 15 tháng 1, 2008
0 nhận xét
categories: | | edit post

子 夜 秋 歌

長 安 一 片 月,


萬 戶 擣 衣 聲。


秋 風 吹 不 盡,


總 是 玉 關 情。


何 日 平 胡 虜,


良 人 罷 遠 征?


李白 Lý Bạch
Thơ Trung Quốc

Phiên âm:
Tử Dạ thu ca

Trường An nhất phiến nguyệt,
Vạn hộ đảo y thanh.
Thu phong xuy bất tận,
Tổng thị Ngọc quan tình.
Hà nhật bình Hồ lỗ,
Lương nhân bãi viễn chinh ?

Việt dịch:
Bài hát mùa thu của nàng Tử Dạ


Trường An một mảnh trăng trong
Tiếng chày đập áo điểm vang mọi nhà
Gió thu thổi mãi không già
Ngọc Quan tình mộng bao la là tình
Hồi nào Hồ Lỗ được bình
Cho chàng thôi việc viễn chinh đây nè?

Phổ Đồng

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on Thứ Hai, 14 tháng 1, 2008
0 nhận xét
categories: | | edit post

桃 花 溪

隱 隱 飛 橋 隔 野 煙,


石 磯 西 畔 問 漁 船。


桃 花 盡 日 隨 流 水,


洞 在 清 溪 何 處 邊。


張旭 Trương Húc
Thơ Trung Quốc

Phiên âm:
Đào hoa khê

Ẩn ẩn phi kiều cách dã yên,
Thạch cơ tây bạn, vấn ngư thuyền.
Đào hoa tận nhật tuỳ lưu thuỷ,
Động tại thanh khê hà xứ biên ?

Việt Dịch:
Suối hoa đào

Thấp thoáng cầu bay sau khói mờ
Bờ tây ghềnh đá hỏi thuyền câu
Hoa đào sớm tối theo dòng nước
Động tại suối trong ở bên nào?


Phổ Đồng

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on
0 nhận xét
categories: | | edit post

楓 橋 夜 泊

月 落 烏 啼 霜 滿 天,


江 楓 漁 火 對 愁 眠。


姑 蘇 城 外 寒 山 寺,


夜 半 鐘 聲 到 客 船。


張繼 Trương Kế
Thơ Trung Quốc

Phiên âm:
Phong Kiều dạ bạc


Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hoả đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Việt dịch:
Nửa đêm đậu bến Phong Kiều

Trăng tàn tiếng quạ giăng sương
Bờ phong đối lửa chài vương giấc buồn
Cô Tô thành ngoại Hàn sơn
Nửa đêm chuông động mộng con khách thuyền!

Phổ Đồng

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on
0 nhận xét
categories: | | edit post

秋興其一

玉 露 凋 傷 楓 樹 林,


巫 山 巫 峽 氣 蕭 森。


江 間 波 浪 兼 天 湧,


塞 上 風 雲 接 地 陰。


叢 菊 兩 開 他 日 淚


孤 舟 一 繫 故 園 心。


寒 衣 處 處 催 刀 尺,

白 帝 城 高 急 暮 砧。


杜甫 Đỗ Phủ
Thơ Trung Quốc

Phiên âm:
Thu hứng kỳ 1

Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,
Vu Sơn, Vu Giáp khí tiêu sâm.
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,
Tái thượng phong vân tiếp địa âm.
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
Cô chu nhất hệ cố viên tâm.
Hàn y xứ xứ thôi đao xích,
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.

Việt dịch:
Cảm xúc thu 1


Rừng phong xơ xác sương mù
Núi thiêng linh khí âm u phủ đầy
Giữa dòng sóng dậy trời mây
Gió ngưng phủ ải đường mây tiếp trần
Lệ xa cúc nở hai lần
Thuyền cô chỉ buộc tình son quê nhà
May hàn y, giục mọi nhà
Thành cao Bạch đế ác tà chày vang.


Phổ Đồng

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on
0 nhận xét
categories: | | edit post

春 思

燕 草 如 碧 絲,


秦 桑 低 綠 枝;


當 君 懷 歸 日,


是 妾 斷 腸 時。


春 風 不 相 識,


何 事 入 羅 幃?


李白 Lý Bạch
Thơ Trung quốc

Phiên âm:
Xuân tứ

Yên thảo như bích ty,
Tần tang đê lục chi;
Đương quân hoài quy nhật,
Thị thiếp đoạn trường thì.
Xuân phong bất tương thức,
Hà sự nhập la vi ?

Việt dịch:
Cảm nghĩ xuân

Cỏ Yên xanh biếc tơ trời
Dâu Tần lả ngọn lửng lơi xanh vàng
Ngày về mong đợi nơi chàng
Là khi lòng thiếp đứt từng khúc thôi
Gió xuân không biết kia ơi !
Tại sao cứ mãi lả lơi bên màn?

Phổ Đồng

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on Thứ Tư, 9 tháng 1, 2008
0 nhận xét
categories: | | edit post

春夜

黑 夜 韶 光 何 處 尋


小 窗 開 處 柳 陰 陰

江 湖 病 到 經 時 久

風 雨 春 隨 一 夜 深

羈 旅 多 年 燈 下 淚

家 鄉 千 里 月 中 心

南 臺 村 外 龍 江 水

一 片 寒 聲 送 古 今

阮攸 Nguyễn Du
Thơ Việt Nam

Phiên âm:
Xuân dạ

Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm?
Tiểu song khai xứ liễu âm âm
Giang hồ bệnh đáo kinh thời cữu,
Phong vũ xuân tuỳ nhất dạ thâm
Kỳ lữ đa niên đăng hạ lệ,
Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm
Nam Đài thôn ngoại Long giang thuỷ
Nhất phiến hàn thanh tống cổ câm (kinh).

Việt dịch:
Đêm xuân

Thâm u hàng liễu bên song cửa
Đêm tối ánh dương nơi nào tầm?
Giang hồ bệnh đến bao năm tháng
Theo gió mưa xuân đêm càng thâm
Nhiều năm lữ khách chong đèn lệ
Nghìn dặm quê nhà trăng dõi tâm
Ngoài xóm Nam Đàn Long giang chảy
Đưa hoài kim cổ lạnh dòng trôi.

Phổ Đồng

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on Thứ Ba, 8 tháng 1, 2008
0 nhận xét
categories: | | edit post

村 夜

青 草 村 前 臥 老 翁


江 南 夜 色 上 廉 攏


滿 天 明 月 一 池 水


半 壁 寒 燈 萬 樹 風


老 去 未 知 生 計 拙


障 消 時 覺 夙 心 空


年 年 結 得 魚 樵 侶


笑 傲 湖 煙 野 草 中。


阮攸 Nguyễn Du
Thơ Việt Nam

Phiên âm:
Thôn dạ

Thanh thảo thôn tiền ngoạ lão ông,
Giang nam dạ sắc thướng liêm lung.
Mãn thiên minh nguyệt nhất trì thuỷ,
Bán bích hàn đăng vạn thụ phong.
Lão khứ vị tri sinh kế chuyết,
Chướng tiêu thời giác túc tâm không.
Niên niên kết đắc ngư tiều lữ,
Tiếu ngạo hồ yên dã thảo trung.

Việt dịch:
Đêm làng

Cỏ xanh trước xóm lão ông nằm
Bao phủ sông nam đặc bóng đêm
Trăng sáng đầy trời ao rủ xuống
Đèn hiu nửa vách gió lạnh căm
Già đến vụng đường không sinh kế
Chướng tiêu tâm cũ bỗng nhàn an*
Ngư Tiều kết bạn qua năm tháng
Tiếu ngạo trong vùng cỏ khói lam.

Phổ Đồng

*Nhàn an: chỉ cho nghĩa "không" của nhà Phật, không còn vướng bận nghiệp chướng nữa.

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on
0 nhận xét
categories: | | edit post

題二青洞

盤 古 初 分 不 記 年


山 中 生 窟 窟 生 泉

萬 般 水 石 擅 大 巧

一 粒 乾 坤
開 小 天

滿 境 皆 空 何 有 相

此 心 常 定 不 離 禪

大 師 無 意 亦 無 盡

俯 嘆 城 中 多 變 遷。


阮攸 Nguyễn Du
Thơ Việt Nam

Phiên âm:
Đề Nhị Thanh động


Bàn cổ sơ phân bất ký niên,
Sơn trung sinh quật, quật sinh tuyền.
Vạn ban thuỷ thạch thiện đại xảo,
Nhất lạp càn khôn khai tiểu thiên.
Mãn cảnh giai không hà hữu tướng?
Thử tâm thường định bất ly thiền.
Đại sự vô ý diệc vô tận,
Phủ thán thành trung đa biến thiên.

Việt dịch:
Đề động Nhị Thanh



Bàn cổ mới phân năm không nhớ
Núi khe hang động từ núi sanh
Đá khe muôn khúc vô cùng tuyệt
Một hạt càn khôn thế giới thành
Khắp cảnh đều không có tướng nào?
Tâm này luôn định không lìa Thiền
Đại sư* không ý không cùng tận
Lắm cảnh trong thành lại biến thiên!

Phổ Đồng


* Đại sư, bậc Thầy vĩ đại chỉ cho đức Phật.

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on
0 nhận xét
categories: | | edit post

道 意

明 月 照 古 并


并 水 無 波 濤

不 被 人 牽 扯

此 中 心 不 搖

縱 被 人 牽 扯

一 搖 還 復 止

湛 湛 一 片 心

明 月 古 并 水.

阮攸 Nguyễn Du
Thơ Việt Nam

Phiên âm:
Đạo ý

Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh,
Tỉnh thuỷ vô ba đào.
Bất bị nhân khiên xã,
Thử tâm trung bất dao.
Túng bị nhãn khiên xã,
Nhất dao hoàn phục chỉ.
Trạm trạm nhất phiến tâm,
Minh nguyệt cổ tỉnh thuỷ.

Việt dịch:
Ý đạo

Trăng sáng chiếu giếng xưa
Nước giếng không nổi sóng
Không bị người khuấy đảo
Tâm này tất không động.
Dù bị người khuấy đảo
Qua động lại lặng ngưng
Trong sáng một tấm lòng
Nước giếng xưa, trăng sáng.

Phổ Đồng

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on Thứ Hai, 7 tháng 1, 2008
0 nhận xét
categories: | | edit post

nhạc nền

VIDEO - PHIM

About Me

Ảnh của tôi
Vietnam
Từ vô thỉ ta luân hồi cát bụi, Vẫn miệt mài bám lấy cõi trần gian; Vẫn hít thở âm thầm yêu cuộc sống, Trần gian ơi nghe cát bụi mơ màn. Theo khát vọng ta trầm luân gót mỏi, Đếm đường dài vết cũ bụi chưa tan; Ngoảnh mặt lại khói sương mờ phong kín, Đường qua đi mất dấu tự phương ngàn. Ta dong ruỗi lạc loài theo nắng sớm, Cùng mưa chiều tan nát mộng dưới chân; Đất khẽ gọi con gió chiều đi vắng, Về tự tình đưa tiễn mộng nghìn năm. Nghe tan vỡ từ vô thường hoa nở, Nắng nghìn năm trưa buồn lạ trong hồn; Chiều ủ rũ qua nắng tàn trăng hiện, Từng giọt vàng rơi cõi đất mông lung. Vẫn hiện thực qua sắc màu biến đổi, Chuyện trăng tàn nhớ bóng ráng chiều phong; Tựa hơi thở buồn vui nào biết nổi, Cả một đời qua sinh diệt thời gian. Chợt một sớm rảnh rang nhìn đất thở, Đá cựa mình nghe dao động không gian; Như hoa đớm hạt nắng vàng ảo hóa, Giọt mong manh từng giọt đẹp vô ngần. Theo duyên hiện hóa thân vào vô tận, Duyên trùng trùng cho đến mãi vô chung.