戲 題
閒 來 無 事 不 清 哦
塵 外 風 流 自 一 家
珪 璧 千 重 開 疊 巘
玻 瓈 萬 頃 漾 晴 波
管 弦 嘈 雜 林 邊 鳥
羅 綺 芳 芬 塢 裡 花
眼 底 一 時 詩 料 富
吟 翁 誰 與 世 人 多
阮 廌 Nguyễn Trãi
Thơ Việt Nam
Phiên âm:
Hí đề
Nhàn lai vô sự bất thanh nga
Trần ngoại phong lưu tự nhất gia
Khuê bích thiên trùng khai điệp nghiễn
Pha lê vạn khoảnh dạng tình ba
Quản huyền tào tạp lâm biên điểu
La ỷ phương phân ổ lý hoa
Nhãn để nhất thời thi liệu phú
Ngâm ông thùy dữ thế nhân đa
Việt dịch:
Đề vui
Nhàn đến ngâm thơ khi vô sự
Phong lưu thoát tục một mình ta
Nghìn trùng núi chất giăng ngọc bích
Sóng lặng lung linh ánh nước xa
Ven rừng chim hót như đờn, sáo
Trong xóm cỏ hoa thơm lụa là
Đáy mắt hồn thơ giàu mỗi lúc
Người thơ hơn được khách đời sao?
Phổ Đồng
春 夜 宴 桃 李 園 序
夫 天 地 者, 萬 物 之 逆 旅;
光 陰 者, 百 代 之 過 客。
而 浮 生 若 夢,
爲 歡 幾 何 ?
古 人 秉 燭 夜 遊,
良 有 以 也。
況 陽 春 召 我 以 煙 景,
大 塊 假 我 以 文 章。
會 桃 李 之 芳 園,
序 天 倫 之 樂 事。
群 季 俊 秀, 皆 爲 惠 連。
吾 人 詠 歌, 獨 慚 康 樂。
幽 賞 未 已,
高 談 轉 清。
開 瓊 筵 以 坐 華,
飛 羽 觴 而 醉 月。
不 有 佳 作,
何 伸 雅 懷?
如 詩 不 成,
罰 依 金 谷 酒 數。
李白 Lý Bạch
Đoản văn Trung Quốc
Phiên âm:
Xuân dạ yến đào lý viên tự
Phù thiên địa giả, vạn vật chi nghịch lữ;
Quang âm giả, bách đại chi quá khách.
Nhi phù sinh nhược mộng,
Vi hoan ki hà?
Cổ nhân bỉnh chúc dạ du,
Lương hữu dĩ dã.
Huống dương xuân triệu ngã dĩ yên cảnh,
Đại khối giả ngã dĩ văn chương.
Hội đào lý chi phương viên,
Tự thiên luân chi lạc sự.
Quần quý tuấn tú, giai vi Huệ Liên.
Ngô nhân vịnh ca, độc tàm Khang Lạc.
U thưởng vị dĩ,
Cao đàm chuyển thanh.
Khai quỳnh diên dĩ tọa hoa,
Phi vũ thương nhi túy nguyệt.
Bất hữu giai tác,
Hà thân nhã hoài?
Như thi bất thành,
Phạt y Kim Cốc tửu sổ.
Việt Dịch:
Đêm xuân uống rượu trong vườn đào lý
Trời đất là quán trọ của muôn vật;
Thời gian là khách ghé của trăm đời.
Mà phù sinh như giấc mộng,
vui được là bao?
Người xưa cầm đuốc chơi đêm,
tin rằng có vậy.
Huống chi mùa xuân đem cảnh sương mù lôi cuốn ta,
Đất rộng dùng văn chương mời mọc ta.
Hợp mặt trong vườn thơm đào lý,
Bày cuộc vui của trời cao.
Các nàng đẹp đẽ, đều như Huệ Liên.
Chúng ta ca ngâm, thẹn cùng Khang Lạc.
Ngoạn cảnh chưa xong,
Quay sang đàm thanh.
Trải chiếu ngọc dưới hoa,
Vung chén say cùng nguyệt.
Không có văn hay,
Sao ra lòng nhã.
Như thơ không thành,
Phạt theo số rượu Kim Cốc.
Phổ Đồng
縻 中 漫 興
鐘 子 援 琴 操 南 音
莊 錫 病 中 猶 越 吟
四 海 風 塵 家 國 淚
十 旬 牢 獄 死 生 心
平 章 遺 恨 何 時 了
孤 竹 高 風 不 可 尋
我 有 寸 心 無 與 語
鴻 山 山 下 桂 江 深。
阮攸 Nguyễn Du
Thơ Việt Nam
Phiên âm:
Mỵ trung mạn hứng
Chung Tử viên cầm tháo Nam âm
Trang Tích bệnh trung do Việt ngâm
Tứ hải phong trần gia quốc lệ
Thập tuần lao ngục sinh tâm
Bình Chương di hận hà thời liễu
Cô Trúc cao phong bất khả tầm
Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ
Hồng sơn sơn hạ Quế giang thâm.
Việt dịch:
Nghĩ lung trong ngục
Trang Tích bệnh rên âm ngữ Việt
Cầm đàn Chung Tử dạo Nam âm
Bốn phương gió bụi rơi lệ nước
Lao ngục mười tuần sống chết tâm
Bình Chương di hận bao giờ hết?
Cô Trúc thanh cao không thể tầm
Ta có tấc lòng không tỏ được
Sâu như sông Quế dưới non Hồng!
Phổ Đồng
雜 詩 二
鴻 山 一 色 臨 平 渠
清 寂 可 為 寒 士 居
千 里 白 雲 生 几 席
一 窗 明 月 上 琴 書
笑 啼 徇 俗 干 戈 際
緘 默 藏 生 老 病 餘
落 葉 花 開 眼 前 事
四 時 心 境 自 如 如.
阮攸 Nguyễn Du
Thơ Việt Nam
Phiên âm
Tạp thi nhị
Hồng Sơn nhất sắc lâm bình cừ,
Thanh tịch khả vi hàn sĩ cư.
Thiên lý bạch vân sinh kỷ tịch
Nhất song minh nguyệt thướng cầm thư
Tiếu đề tuẫn tục can qua tế,
Giam mặc tàng sinh lão bệnh dư.
Diệp lạc hoa khai nhãn tiền sự,
Tứ thời tâm kính tự như như.
Việt dịch:
Tạp thi 2
Non Hồng soi bóng in dòng nước
Hàn sĩ ần cư nơi vắng trong
Mây trắng quanh giường xa nghìn dặm
Sách đàn trăng dõi lọt qua song
Tùy đời cười khóc qua cơn loạn
Ngậm miệng che thân dưỡng bệnh này
Hoa nở lá rơi ngay trước mắt
Cõi lòng năm tháng vẫn không thay.
Phổ Đồng
江亭有感
憶 昔 吾 翁 謝 老 時
飄 飄 蒲 駟 此 江 湄
仙 舟 激 水 神 龍 鬥
寶 蓋 浮 空 瑞 鶴 飛
一 自 衣 裳 無 覓 處
兩 隄 煙 草 不 勝 悲
百 年 多 少 傷 心 事
近 日 長 安 大 已 非
阮攸 Nguyễn Du
Thơ Việt Nam
Phiên âm
Giang Đình hữu cảm:
Ức tích ngô ông tạ lão thì,
Phiêu phiêu bồ tứ thử giang mi.
Tiên chu kích thủy thần long đấu,
Bảo cái phù không thụy hạc phi.
Nhất tự y thường vô mịch xứ,
Lưỡng đê yên thảo bất thăng bi.
Bách niên đa thiểu thương tâm sự,
Cận nhật trường an đại dĩ phi.
Việtdịch:
Cảm xúc Giang Đình
Nhớ lúc xưa, cha ta cáo lão,
Tấp nập ngựa xe bến sông này.
Thuyền tiên rẽ nước rồng giao đấu,
Lọng quý trên không hạc gieo lành.
Từ khi xiêm áo không tìm thấy,
Khói cỏ đôi bờ chịu bi thương.
Cận nhật kinh thành nhiều khác lạ,
Trăm năm nhiều ít chuyện thương tâm!
Phổ đồng
